• CHUYÊN BÁN SỈ ĐT: 0912060474
  • VPGD 295 Hoàng Hoa Thám, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội
ALTAI SIBIRI

TẾ BÀO KINTARO VÀ Y HỌC TÁI TẠO

Giá bán : Liên hệ - 0912060474
Địa chỉ : 295 Hoàng Hoa Thám, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội

Thông tin sản phẩm




Alexei Vjacheslavovich Коvalev - Giáo sư, tiến sĩ y học, bác sĩ trong lĩnh vực: mô học, tế bào học, sinh học tế bào. Giáo sư Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên (lĩnh vực nghiên cứu: khoa học y học)
Viện trưởng Viện nghiên cứu ứng dụng tế bào mới và công nghệ y sinh học (Matxcơva- LB Nga)
 

Tế bào gốc trung mô và lịch sử ứng dụng trong khoa học và thực hành lâm sàng

Khái niệm khôi phục các mô bào bằng các tế bào gốc lần đầu tiên được đề cập đến cách đây hơn 100 năm khi nghiên cứu về các tế bào tạo máu [1].
Năm 1926 А.А. Маximov đưa ra thuyết về bảo tồn các tế bào ít biệt hóa của mô liên kết trong suốt cuộc sống của con người (trong suốt thời gian phát triển cá thể sau khi sinh), các tế bào này tập trung xung quanh các mao mạch và gần giống về tính chất vạn năng với các tế bào phôi trung mô.  Trong các nghiên cứu của mình, А.А. Маximov đã sử dụng rộng rãi phương pháp mô học thực nghiệm và đã chứng minh một cách thuyết phục rằng trong cơ thể động vật tồn tại suốt đời các tế bào ít biệt hóa, gọi là các tế bào “trung mô”, trong những điều kiện nhất định chúng có thể biệt hóa thành các tế bào chuyên biệt của mô liên kết và máu. Dựa trên những kết quả nghiên cứu nhiều năm về mô liên kết và quá trình tạo máu trên động vật có xương sống, А.А. Маximov đã trình bày khá rõ nét trong cuốn sách chuyên khảo của mình “Mô liên kết và các tế bào tạo máu”  [1].
 
Trong 10 năm gần đây các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, sự phục hồi về mặt sinh lý và tái tạo tế bào xảy ra trong suốt cuộc sống của con người và động vật là nhờ vào các tế bào gốc. Các tế bào gốc quan trọng nhất của cơ thể trưởng thành là các tế bào gốc trung mô (MSC). 
Lần đầu tiên tế bào gốc trung mô được phát hiện và tách chiết từ chất đệm của tủy xương. Các nhà khoa học cho rằng, các tế bào gốc trung mô của tủy xương là khởi nguồn của sự đổi mới và phục hồi của các mô liên kết như mô xương, sụn và mỡ. Có một học thuyết cho rằng tủy xương là nơi chứa các tế bào gốc sau sinh như tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô. Tuy nhiên giả thuyết cho rằng sự phục hồi của các mô liên kết trong cơ thể được xác định bởi hoạt tính các tế bào gốc trung mô tủy xương cho đến nay vẫn chưa chứng minh được một cách chắc chắn [2].
 
 
 
Việc xác định các tế bào gốc trung mô và phân tích chúng trực tiếp trong mô rất phức tạp, vì vậy đa số những kết luận về tính chất sinh học của chúng dựa trên những nghiên cứu các tế bào đệm được tách chiết từ các mô khác nhau [3]. Hiệp hội quốc tế về công nghệ tế bào (Vancuvơ, Canada) đề xuất sử dụng danh từ “Tế bào đệm trung mô đa năng”. Theo các tiêu chuẩn tối thiểu, các tế bào đệm trung mô đa năng phải bám vào thành ống khi nuôi cấy trong điều kiện chuẩn; các kháng nguyên marker nổi lên trên bề mặt, bao gồm cD105, cD73 và cD90, nhưng không chứa cD45, cD34, cD14 hoặc cD11b, cD79α hoặc cD19 và HLA-Dr, đồng thời biệt hóa thành tế bào xương, tế bào mô mỡ và nguyên bào sụn in vitro [4]. 

Các tế bào gốc trung mô trong quá trình tăng trưởng và sửa chữa tế bào

Các tế bào đệm trung mô đa năng

Nguồn các tế bào đệm trung mô đa năng có triển vọng để nghiên cứu tính chất sinh học và ứng dụng trong y học tái tạo là tủy xương và mô mỡ. Tuy nhiên, các tế bào này có thể được tách chiết từ các mô bào khác như da, tuyến ức, lách và nội mạc tử cung [5]. Ngoài khả năng biệt hóa thành tế bào xương, nguyên bào sụn và tế bào mô mỡ in, các tế bào đệm trung mô đa năng tạo ra xương và sụn sau khi cấy ghép in vivo trên động vật, cũng như tái tạo mô xương sau chấn thương [11] và khắc phục những khiếm khuyết về mặt di truyền trong quá trình tạo xương (osteogenesis imperfecta) [6]. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã cho thấy, các tế bào đệm trung mô đa năng có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác có nguồn gốc từ trung bì (phôi), ngoại bì và nội bì, bao gồm các tế bào nội mô [7], tế bào cơ tim [8], tế bào gan [9] và các tế bào thần kinh [10]. 

Các tế bào đệm trung mô đa năng và tăng trưởng tế bào

Cấy ghép các tế bào đệm trung mô đa năng kích thích quá trình tái tạo mô bào, bao gồm xương, cơ xương, cơ tim, da, gan và thần kinh ngoại vi. Theo các kết quả nghiên cứu, hiệu quả trên đạt được là do sự phục hồi của  các tế bào đệm trung mô đa năng được cấy ghép vào mô bào của người nhận và hoạt tính bài tiết của các tế bào này [11]. 
 
 
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, các tế bào gốc trung mô được cấy ghép có tác dụng ổn định các mao mạch đang phát triển trong nội mô và các mạch máu xung quanh nội mô.
Các tế bào gốc trung mô là nguồn quan trọng đối với các yếu tố tăng trưởng và Cytokin, chúng tham gia vào quá trình điều chỉnh tái tạo mô bào. Trong tủy xương, các tế bào gốc trung mô tạo ra các yếu tố  cần thiết để duy trì các tế bào gốc tạo máu và giữ chúng ở trong hốc, bao gồm SDF-1α (yếu tố chất đệm-1α), ScF (yếu tố tế bào gốc), аngio-poetin-1 và interleikin-7 [12]. Trong phòng thí nghiệm của Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga Trachuk đã xác định, các tế bào gốc trung mô đã tạo ra các yếu tố tăng trưởng mạch và các tế bào thần kinh, bao gồm VeGF (yếu tố tăng trưởng nội mô), bFGF (yếu tố tăng trưởng chủ yếu nguyên bào xơ), HGF (yếu tố tăng trưởng tế bào gan), аngiopoetin, nGF (yếu tố tăng trưởng thần kinh), BDnF (yếu tố hướng thần kinh của não) и GDnF (yếu tố hướng thần kinh các tế bào thần kinh đệm) [13, 14]. Các yếu tố tăng trưởng  mạch được sản xuất ra từ các tế bào đệm trung mô đa năng ở vùng cấy ghép kích thích phân chia tế bào nội mô và tạo hình mạch. Trong khi đó, các yếu tố hướng thần kinh được sản xuất ra từ các tế bào đệm trung mô đa năng kích thích phát triển và phục hồi các đầu dây thần kinh [15]. Sản xuất các yếu tố tăng trưởng và Cytokin trong các tế bào gốc trung mô tăng lên nhiều lần khi có tổn thương cơ quan và mô bào. Thiếu oxy gây nên những biến đổi phối hợp gen trong các tế bào đệm trung mô đa năng:  lượng мARN của các yếu tố tạo mạch, bao gồm VeGF, PlGF, HGF, bFGF, PDGF-BВ và tGF-β, tăng lên từ 2–4 lần, còn мARN  của các yếu tố kháng mạch như PAI-1, аngiostatin và trombospondin giảm xuống 2 lần [14]. Các tế bào đệm trung mô đa năng cũng tiết ra các yếu tố hướng thần kinh như nGF, BDnF và GDnF, giúp cho kích thích phát triển và tái tạo các sợi thần kinh [13, 16]. 
 
 

Kết luận

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, trong cơ thể tồn tại 2 loại tế bào gốc trung mô: tế bào gốc trung mô lưu hành ở trong máu, có nguồn gốc từ tủy xương và tham gia vào quá trình sửa chữa các mô bào khi bị tổn thương và tế bào gốc trung mô nằm ở xung quanh mạch của tất cả các cơ quan và mô bào, có tác dụng điều chỉnh quá trình đổi mới sinh lý mô bào và duy trì cân bằng nội môi tế bào. Các tế bào gốc trung mô được coi là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phục hồi và tái tạo tế bào, bởi 3 lý do sau:
1-Những tế bào này điều chỉnh khả năng tự duy trì và biệt hóa tế bào gốc đặc hiệu trong mô bào;
2- Các tế bào gốc trung mô kích thích sinh trưởng, ổn định mạch máu và thần kinh trong quá trình sửa chữa mô bào
3- Sự tác động tương hỗ giữa các tế bào gốc trung mô, các tế bào nội mô và các sợi trục cho phép liên kết các tín hiệu thần kinh-dịch thể điều hòa sự phục hồi và sửa chữa mô bào
 

Ứng dụng tế bào gốc trung mô của người trưởng thành trong thực hành lâm sàng

 
Liệu pháp tế bào gốc – là phương pháp điều trị những bệnh mà trước đây không thể chữa khỏi. Khi trong cơ thể xuất hiện tổn thương (thoái hóa, chấn thương, viêm nhiễm và tự miễn), sẽ tạo nên hàng loạt các tín hiệu hóa học để đưa các tế bào gốc đến vị trí bị tổn thương của mô bào.  
 
  • Tái tạo trong nhãn khoa (teo thần kinh thị giác với nguồn phát sinh khác nhau, vô dưỡng võng mạc, loạn dưỡng Shtadgart, Lebera, loạn dưỡng khô và ẩm, loạn dưỡng võng mạc, thiếu nuôi dưỡng mạch máu mắt, bệnh võng mạc do tiểu đường); 
  • Sự tái sinh;
  • Tái tạo thần kinh (điều trị bệnh não, bệnh lý đa dây thần kinh, phục hồi sau đột quỵ, sau chấn thương sọ não, nhiễm độc); 
  • Tái tạo tim mạch (nhồi máu cơ tim và suy tim);
  • Tái tạo hô hấp (tràn khí phổi, bệnh giãn phế quản, suy hô hấp); 
  • Tái tạo ruột kết-trực tràng (bệnh Krohn, viêm loét ruột kết không đặc hiệu);
  • Thiếu máu cục bộ và bệnh lý mạch máu chi dưới do tiểu đường;
  • Công nghệ tế bào trong chấn thương và chỉnh hình.
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Maximov A.A. // Folia Haematologica. 1909. V. 8. P. 125–134. 
  2. Giannoudis P.V., Goff t., roshdy t., Jones e., McGonagle D. // Injury. 2010. V. 41. P. 1099–1102.

  3. Nombela-Arrieta c., ritz J., Silberstein L.e. // nat. rev. Mol. cell. Biol. 2011. V. 12. P. 126–131.

  4. Dominici M., Le Blanc K., Mueller I., Slaper-cortenbach I., Marini F., Krause D., Deans r., Keating A., Prockop D., 
  5. Horwitz e. // cytotherapy. 2006. V. 8. P. 315–317.
15. Mosna F., Sensebe L., Krampera M. // Stem cells Dev. 2010. V. 19. P. 1449–1470. 
  6. Li F., Wang X., niyibizi c. // Bone. 2010. V. 47. P. 546–555. 
  7. Konno M., Hamazaki t.S., Fukuda S., tokuhara M., uchiyama H., Okazawa H., Okochi H., Asashima M. // Biochem. Biophys. res. commun. 2010. V. 400. P. 461–465.

  8. 21. tan G., Shim W., Gu Y., Qian L., chung Y.Y., Lim S.Y., Yong P., Sim e., Wong P. // Differentiation. 2010. V. 7. P. 260–271.

  9. 22. Banas A., teratani t., Yamamoto Y., tokuhara M., takeshita F., Osaki M., Kato t., Okochi H., Ochiya t. // J. Gastroenterol. Hepatol. 2009. V. 24. P. 70–77.

  10. 23. Park B.W., Kang D.H., Kang e.J., Byun J.H., Lee J.S., Maeng G.H., rho G.J. // J. tissue eng. regen. Med. 2011
  11. Tolar J., Le Blanc K., Keating A., Blazar B.r. // Stem cells. 2010. V. 28. P. 1446–1455. 
  12. Mendez-Ferrer S., Michurina t.V., Ferraro F., Mazloom A.r., Macarthur B.D., Lira S.A., Scadden D.t., Ma'ayan A., enikolopov G.n., Frenette P.S. // nature. 2010. V. 466. P. 829–834. 
  13. Lopatina t., Kalinina n., Karagyaur M., Stambolsky D., rubina K., revischin A., Pavlova G., Parfyonova Y., tkachuk V. // PLoS One. 2011. V. 6. P. e17899. 
  14. Rubina K., Kalinina n., efimenko A., Lopatina t., Melikhova V., tsokolaeva Z., Sysoeva V., tkachuk V., Parfyonova Y. // tissue eng. Part A. 2009. V. 15. P. 2039–2050. 
  15. Kinnaird t., Stabile e., Burnett M.S., Lee c.W., Barr S., Fuchs S., epstein S.e. // circ. res. 2004. V. 94. P. 678–685. 36. Рубина К.А., Калинина Н.И., Ефименко А.Ю., Лопатина Т.В., Мелихова В.С., Цоколаева З.И., Сысоева В.Ю., Ткачук В.А., Парфенова Е.В. // Кардиология. 2010. Т. 50. С. 51–61.
37. Semenza G.L. // J. cell Biochem. 2007. V. 102. P. 840–847.

Cai L., Johnstone B.H., Cook T.G., Tan J., Fishbein M.c., Chen P.S., March K.L. // Stem. cells. 2009. V. 27. P. 230–237.


Bình luận

Bạn cần hỗ trợ